Nhớ ơn Phật

Thế giới Cực lạc do tâm từ bi, trí tuệ, công đức phước báo và nguyện lực của Đức Phật A Di Đà mà có. Hễ tâm ai tương ưng với cảnh giới Cực lạc thì sinh về Cực lạc.

Niệm Phật chuyển hoá khổ đau thành an lạc 

Thuở bé theo mẹ đến chùa lễ Phật tụng kinh, tôi hay thắc mắc hỏi mẹ: – Mẹ ơi! Vì sao Ngài lại giơ cánh tay và nhìn xuống sân vậy mẹ. Mẹ tôi mỉm cười đáp: – Khi lớn con sẽ tự khắc hiểu mà thôi con ạ!

Thế giới Cực lạc do tâm từ bi, trí tuệ, công đức phước báo và nguyện lực của Đức Phật A Di Đà mà có. Hễ tâm ai tương ưng với cảnh giới Cực lạc thì sinh về Cực lạc.

Thế giới Cực lạc do tâm từ bi, trí tuệ, công đức phước báo và nguyện lực của Đức Phật A Di Đà mà có. Hễ tâm ai tương ưng với cảnh giới Cực lạc thì sinh về Cực lạc.

Quả thật sau này, tôi đi tu và được thầy tôi chỉ dạy cặn kẽ rõ ràng, tôi mới hiểu được ý nghĩa hình ảnh Đức Từ Phụ đưa cánh tay nguyện cứu vớt tất cả chúng sinh đang lầm than trong bể khổ. Vì thế, hầu hết chúng sinh gặp cảnh khổ nào cũng đều niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà. Trong cơn mơ gặp cảnh dữ, chúng ta cũng hằng niệm “A Di Đà Phật”. Gặp cảnh hốt hoảng, con người ta lại càng nhớ đến “A Di Đà Phật”. Hay khi gặp nhau, ta cũng đều chắp tay chào “A Di Đà Phật”. Cho đến lúc lâm chung, dù người chưa am tường về Đạo Phật nhưng câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” như lời an ủi và gần gũi nhất cho người đang có thân quyến “mạng sống như sợi chỉ mành” sắp phải lìa xa trần thế, cảnh biệt ly tan thương của tử và sinh. Có lẽ câu niệm “A Di Đà Phật” đều đi vào lòng người con Phật từ thuở nào. Quả thật, niệm Phật là phương pháp có từ thời Đức Thế Tôn, là một trong các tùy niệm. Người niệm Phật được định tâm, nhờ lực của giới và định mà thẳng tiến đến tuệ giác.

Phật giáo có nhiều pháp môn tu để chuyển hóa khổ đau thành an lạc thật sự. Niệm Phật là một trong những pháp môn tu. Đến thời Phật giáo phát triển, từ pháp niệm Phật đã chuyển hoá thêm một bước, thành pháp môn Tịnh độ với cõi Tây phương Cực lạc trang nghiêm, vi diệu. Niệm Phật ở đây tức là niệm danh hiệu Phật A Di Đà, vị Giáo chủ cõi Cực lạc. Đối với người có thiện căn sâu dày, trí tuệ lớn, nếu siêng năng tinh tấn niệm Phật, họ sẽ có những sở đắc tương ưng – như là người niệm Phật đạt được định tâm, nhờ lực của giới và định mà chúng ta đạt đến cảnh giới niệm Phật tam muội mà thẳng tiến đến tuệ giác. Hoặc đối với những người bận rộn công việc gia đình và những công việc sinh kế, nếu tinh tấn, nhất tâm niệm Phật, họ sẽ được “đới nghiệp vãng sanh”. Thế giới Cực lạc là phương tiện tối thắng cho sự giác ngộ trước hết, gọi Cực lạc bởi vì môi trường sống ở đó hết sức tốt đẹp. Đất làm bằng vàng ròng và tất cả mọi nơi đều trang hoàng bằng bảy lớp lan can báu, bảy tầng lưới báu và bảy hàng cây báu. Có vô lượng ao hồ làm bằng những chất liệu quý giá như: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ,…; và nước trong ao hồ tinh khiết, thơm tho. Mỗi ao hồ đều có hoa sen tỏa hương sắc vi diệu và rực rỡ. Bầu trời luôn luôn có hoa Mạn-đà-la (Mandarava) rơi xuống và ngày đêm sáu thời thường có nhạc trời hòa tấu. Trong không gian luôn luôn có âm thanh hòa nhã từ các giống chim xinh đẹp, như: Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ và Xá lợi (do Phật A Di Đà hóa thân), diễn nói các pháp như: Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phần và Bát Thánh đạo.

Cực lạc, như đối với nghĩa cực khổ, là thế giới cực kỳ hạnh phúc, trong đó mọi chúng sinh không còn bị những sự khổ não giày vò mà hưởng trọn vẹn an vui.

Cực lạc, như đối với nghĩa cực khổ, là thế giới cực kỳ hạnh phúc, trong đó mọi chúng sinh không còn bị những sự khổ não giày vò mà hưởng trọn vẹn an vui.

Ngoài môi trường sống được mô tả khái quát ở trong Kinh A Di Đà như trên, phần chính yếu tạo thành thế giới Cực lạc là sự hiện diện Phật A Di Đà – vị Giáo chủ, cùng vô lượng Thánh chúng và dân chúng. A Di Đà dịch âm từ tiếng Sanskrit Amita, nghĩa là vô lượng – ánh sáng vô lượng (Amitabha) và thọ mạng vô lượng (Amitayus). Đức Phật A Di Đà có hào quang chiếu khắp mười phương và thọ mạng vô biên. Ánh sáng vô lượng biểu tượng cho trí tuệ rộng lớn và thọ mạng vô lượng biểu tượng cho lòng từ bi, vì Phật A Di Đà muốn trụ thế dài lâu để cứu độ chúng sinh. Thánh chúng là những vị được sự giáo hóa và nhiếp thọ của Phật A Di Đà, bao gồm các vị Bồ tát và những vị đã chứng một trong bốn quả Thánh như trong Kinh A Di Đà, cũng như nguyện thứ 18, một trong 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà: “Đức Phật A Di Đà phát nguyện tiếp dẫn những chúng sinh tinh tấn chuyên trì danh hiệu của Ngài trong cuộc sống, vãng sanh nước Cực lạc”.

Cực lạc, như đối với nghĩa cực khổ, là thế giới cực kỳ hạnh phúc, trong đó mọi chúng sinh không còn bị những sự khổ não giày vò mà hưởng trọn vẹn an vui. Mặc dù nói là hưởng an vui, nhưng mục tiêu của người cầu vãng sanh Cực lạc không phải như vậy, mà để được giác ngộ trọn vẹn Phật đạo. Nói cách khác, cảnh giới Cực lạc chỉ là môi trường hay phương tiện tối thắng giúp mọi người được vãng sanh “không còn thối chuyển” trên con đường giác ngộ, không còn thối chuyển trên con đường đạt đến hạnh phúc thật sự. Dân chúng là những người đang trên tiến trình tu tập, được sự giáo hóa và hướng dẫn của Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát. Căn cứ trên 48 nguyện của Phật A Di Đà, mỗi người dân ở cảnh giới Cực lạc đều có 32 tướng tốt (nguyện 3), thân thể cường tráng, không bệnh tật (nguyện 32), thọ mạng vô lượng (nguyện 15), không còn phải lo lắng về đời sống vật chất như ẩm thực và y phục (nguyện 37) và quan trọng nhất là tâm trí của mỗi người dân đều hướng về mục tiêu đạt được giác ngộ (nguyện 12).

Tựu chung, thế giới Cực lạc là phương tiện tối thắng giúp hành giả “không còn thối chuyển” trên con đường giác ngộ. Phương tiện tối thắng đó là: môi trường tốt đẹp, kinh tế đầy đủ, thân thể khỏe mạnh, có trí tuệ và được thân cận học hỏi thực tập với các vị Thánh tức là Phật A Di Đà và Thánh chúng.

Tịnh Độ là lòng trong sạch

Bất cứ ai với tâm trí nỗ lực hướng về một mục tiêu, được sống trong môi trường tốt đẹp, có sức khỏe điều kiện kinh tế ổn định, cùng với sự khích lệ khuyến tấn của bạn hiền, người đó không sớm thì muộn sẽ hưởng đạt mục tiêu như đề ra. Và khi hành giả niệm Phật đến “nhất tâm bất loạn” sẽ nhận ra cõi Cực lạc ở ngay cảnh giới chúng ta đang sống chứ chẳng cần tìm kiếm đâu xa. Phật hoàng Trần Nhân Tông, trong Cư trần lạc đạo phú, hội thứ hai có viết: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”.

Ý Ngài muốn khẳng định thế giới Tịnh độ chính là tự tâm thanh tịnh của mỗi người, không cần hỏi rằng có hay không có cõi Tịnh độ ở Tây phương. Phật A Di Đà chính là tự tánh sáng soi của chính lòng mình, không cần nhọc công tìm về cõi Cực lạc ở đâu nữa. Đây cũng chính là quan điểm của Thiền phái Trúc Lâm về tư tưởng Tịnh độ nhân gian  phổ biến rộng rãi trong tâm thức người dân Đại Việt vào thời Trần.

Vì vậy trong Thiền tông, cổ đức từng dạy: Tịnh độ tức là duy tâm Tịnh độ – Tịnh độ ở trong tâm của mình. Khi mới thực tập, chúng ta cầu Tịnh độ ở cõi ngoài. Vì sao? Bởi chúng ta nghĩ rằng thực có thế giới Cực lạc là phương tiện tối thắng cho sự giác ngộ. Như trong Kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca cùng mười phương chư Phật đã nhiều lần nhắc nhở thính chúng trong hội Liên Trì và tất cả chúng sinh nên “tin” có thế giới Cực lạc với những phương tiện tối thắng.

Chữ “Tín” theo nghĩa đích thực nhất trong Phật giáo là tin Phật, tin Pháp và tin Tăng. Theo Kinh Vīmamsaka, để xóa tan hoài nghi và để thiết lập niềm tin vững chãi trong việc tu tập, Đức Phật cho phép các vị Tỳ kheo nghi vấn, tìm hiểu cẩn thận về sự giác ngộ trọn vẹn của Ngài. Sau đó, Đức Phật khuyên các vị Tỳ kheo nên an trú niềm tin như sau: “Tôi đặt niềm tin ở Đấng Đạo Sư: Ngài là bậc đã giác ngộ trọn vẹn, Giáo pháp được Ngài khéo thuyết giảng và chư Tăng là những vị đang thực tập hạnh giải thoát”.

Đức Phật nhiều lần nhấn mạnh niềm tin này phải dựa trên nhận thức và lý trí. Niềm tin ấy liên hệ như thế nào với niềm tin có thế giới Cực lạc? Tin có thế giới Cực lạc là dựa trên căn bản tin Pháp, tức là tin vào lời dạy của Phật và tin những lời Phật dạy, tức tin giáo lý Nhân quả, Nghiệp báo, Duyên sinh. Hay chúng ta tin vào giáo lý Tứ đế.

Khi thực tập pháp niệm Phật sâu sắc, chúng ta thấy muốn thực hiện cảnh giới Tịnh độ thanh tịnh, an vui giải thoát thì cốt yếu là chính mình phải thanh tịnh như trong Kinh Duy Ma Cật nói: “Tùy kỳ tâm Tịnh, tắc Phật độ Tịnh”.

Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sinh sẵn có, cũng như chư Phật không hai không khác, nhưng vì từ lâu chúng ta cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi. Nếu tạo nghiệp ác, năng lực của nghiệp ác dẫn dắt chúng ta vào thế giới ác và ngược lại. Nếu tạo nhân cực thiện thì thế giới chúng ta đến là thế giới Cực lạc. Nhân cực thiện tức là tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà, cùng với hoạt động của thân và khẩu dựa trên căn bản chất lòng từ bi phù hợp với bản chất của Phật A Di Dà. Cho nên ngài Tuệ Viễn nói: “Tâm Tịnh thì Quốc độ Tịnh”.

Khi thực tập pháp niệm Phật sâu sắc, chúng ta thấy muốn thực hiện cảnh giới Tịnh độ thanh tịnh, an vui giải thoát thì cốt yếu là chính mình phải thanh tịnh như trong Kinh Duy Ma Cật nói: “Tùy kỳ tâm Tịnh, tắc Phật độ Tịnh”.

Như vậy, chúng ta tin hay biết được có thế giới Cực lạc là dựa trên luật Nhân quả và Nghiệp báo. Và luật Nhân quả và Nghiệp báo là quy luật phổ biến mà ai cũng có thể nhận thức từ kinh nghiệm trong đời sống, nhưng chúng ta lại không chịu sống hay thực tập nó bằng trái tim thì điều đó gọi là “khó tin”.

Chúng ta hay thích tin vào hạnh phúc vĩnh cửu từ tiền bạc, danh vọng, tiện nghi vật chất đem đến. Thực tế, những thứ như tiền bạc, danh vọng, tiện nghi vật chất là vô thường và không thể mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho con người. Một điều khác khá quan trọng cần nêu lên ở đây là hành tu pháp môn Niệm Phật dựa vào một số lý luận và kinh nghiệm cá nhân để tin có sự hiện hữu của thế giới Cực lạc. Những lý luận và kinh nghiệm cá nhân này cần được giải thích, bổ túc qua ánh sáng giáo lý Nhân quả và Nghiệp để hiểu đúng đắn về giáo nghĩa Tịnh độ.

Chúng ta thấy Đức Phật bình đẳng với tất cả chúng sinh, chúng sinh nào cần đến Ngài, Ngài đều hiện diện bình đẳng, không vụ lợi và vô phân biệt. Chúng ta muốn đến thế giới Cực lạc phải có cái tâm như tâm Phật A Di Đà, hoặc như tâm các vị Bồ tát, các bậc thượng thiện nhơn, có chí nguyện như các vị ấy, đó là điều kiện để xây dựng thế giới Cực lạc cho chính bản thân rồi mới đem lợi lạc đó ban rải chúng sinh .

Kết luận

Nhân lễ vía Đức Phật A Di Đà nhằm ngày 17/11 âm lịch, chúng con xin tỏ bày đôi nét về hạnh nguyện và ôn lại 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà. Pháp môn Niệm Phật đã giúp người hành trì thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý; không tiếp tục gieo nhân tạo các nghiệp xấu, ác, bất thiện. Nhờ hành trì pháp môn Niệm Phật mà tâm định tĩnh, trí sáng suốt, ngoài không bị ngoại duyên tác động, trong không bị phiền não vọng tưởng chi phối. Nhờ đó không còn lo lắng, sợ hãi, khổ đau, có thể giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong đời sống. Đó là kết quả của đời sống chơn chánh có tu tập, thực hành nếp sống đạo đức, theo lời dạy thiết thực của Đức Phật. Đúng như trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật nói: “Tất cả chỉ tâm tạo”, “Tâm như họa sĩ khéo, vẽ nên các thế giới muôn màu”.

Thế giới Cực lạc do tâm từ bi, trí tuệ, công đức phước báo và nguyện lực của Đức Phật A Di Đà mà có. Hễ tâm ai tương ưng với cảnh giới Cực lạc thì sinh về Cực lạc. Cho nên chúng ta bây giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” chính là mỗi người tự tạo, tự trang nghiêm và thành tựu thế giới Cực lạc cho chính mình. Thế giới Cực lạc này không cách xa mười vạn ức cõi Phật. Vì vậy cuộc đời bình an hay không do chính chúng ta là chủ nhân quyết định, vì thế mỗi người con Phật cần nên cố gắng vậy.

Nguồn: Tạp chí Văn hoá Phật giáo 



Nguồn: Phật Giáo Việt Nam

Xem thêm nội dung mới và bổ ích tại:

– Kiến thức gia đình

– Tri thức đời sống

– Cẩm nang sức khỏe

– Kênh youtube Kiến thức gia đình